Con người sống trong ảo vọng, qua ảo vọng, vì ảo vọng, không ai muốn chân lí


Powered by RedCircle


Powered by RedCircle

Thiên đường mảnh đất thuần khiết là không xa.

Khi trong tôn kính chân lí này được nghe thấy cho dù một lần,

Người ca ngợi nó và vui mừng ôm choàng nó có công trạng không kết thúc.

Bao nhiêu công trạng hơn nữa người đó có nếu người đó quay vào trong

và xác nhận trực tiếp bản tính riêng của người đó, rằng bản tính riêng của người đó là vô bản tính - như vậy đã siêu việt trên lời vô dụng.

Cổng mở, và nhân quả là một;

chạy thẳng con đường - không hai, không ba. Coi hình tướng của vô tướng là hình tướng, đi và trở về, người đó bao giờ cũng ở nhà.

Coi ý nghĩ là ý nghĩ về vô ý nghĩ,

hát và múa, tất cả là tiếng nói của chân lí. Rộng là trời của samadhi vô biên,

Rạng ngời trăng tròn của bốn trí huệ. Cái gì còn lại để được tìm?

Niết bàn là rõ ràng trước người đó,

Chính chỗ này là thiên đường hoa sen, Chính thân này là Phật.

Con người sống trong ảo vọng. Con người sống qua ảo vọng. Con người sống vì ảo vọng. Tóm lại, con người sống vì ảo vọng. Do đó có sợ chân lí. Không ai muốn chân lí, mặc dầu mọi người liên tục tìm kiếm nó. Việc tìm kiếm đó là lừa dối, việc tìm kiếm nó là né tránh. Tìm kiếm chân lí ngụ ý né tránh chân lí.

Điều đó phải được hiểu - làm sao người tìm kiếm liên tục né tránh chân lí. Tìm kiếm ngụ ý nhìn ra xa, tìm kiếm ngụ ý nhìn đi đâu đó khác, tìm kiếm ngụ ý đi trên cuộc hành trình. Tìm kiếm ngụ ý trì hoãn - tìm kiếm ngụ ý nó sẽ xảy ra ngày mai hay ngày kia, nó không xảy ra ngay bây giờ. Nó không ở đây, nó ở kia. Nó không là cái này, nó là cái kia.

Con người liên tục sống trong ảo vọng. Nhưng để sống trong ảo vọng, người ta cần tránh chân lí, vì nếu chân lí tới, nó sẽ làm tan tành mọi ảo tưởng của bạn và mọi cái gọi là cuộc sống của bạn và mọi cái gọi là yêu của bạn. Chân lí có vẻ như thảm hoạ. Và Friedrich Nietzsche là đúng theo nghĩa mà ông ấy nói: Xin đừng trao chân lí cho nhân loại. Bằng không bạn sẽ phá huỷ niềm vui của mọi người, bạn sẽ phá huỷ nhiệt tình của họ, bạn sẽ phá huỷ sự thích thú của họ. Đừng trao chân lí cho nhân loại, bằng không mọi điều họ có, sẽ biến mất. Vì mọi điều họ có, là một loại mơ. Đừng đánh thức nhân loại, bằng không mơ sẽ bị đập tan tành. Và họ có thể thấy những giấc mơ đẹp - hay hi vọng thấy, ở đâu đó, lúc nào đó.

Đó là lí do tại sao Christ bị đóng đinh, Socrates bị đầu độc, Phật bị ném đá. Họ mang chân lí cho mọi người, những người đã trở thành gần như ảo vọng. Họ đem ánh sáng tới cho những người sống trong tối và mơ trong tối. Và mơ của họ phụ thuộc vào tối - khi ai đó mang ánh sáng vào, tối biến mất cùng mơ và ham muốn.

Người ta cảm thấy bị tổn thương bởi Phật hay Christ. Christ có vẻ không giống như đấng cứu tinh mà giống kẻ thù. Bằng không sao bạn đóng đinh Christ? Không có lí do khác. Lí do cơ bản là: ông ấy nhổ bật rễ bạn, ông ấy làm tan nát bạn. Điều này phải được hiểu rất sâu. Và khi bạn sống trong ảo vọng thì bạn tìm chân lí. Đó là lừa dối gấp đôi, để cho bạn có thể liên tục tự nhủ bản thân bạn và an ủi bản thân bạn rằng 'Mình đang đi tìm. Nhìn nỗ lực lớn lao làm sao mà mình đang làm, mình đang đổ năng lượng vào việc tìm kiếm nhiều làm sao - nhìn đấy!'

Việc tìm kiếm chân lí nảy sinh từ giả dối của bạn. Chính giả dối đặt bạn vào việc tìm chân lí. Nó là sự bảo vệ cho giả dối, nó là cách giả dối sống còn. Nó nói: Đi và tìm chân lí. Chân lí có đó xa xôi ở mảnh đất xa xăm nào đó. Bạn sẽ phải du hành, và việc du hành là lâu dài và việc du hành sẽ không được kết thúc sớm. Sẽ cần nhiều kiếp sống, sẽ cần hàng nghìn năm, nhưng cứ đi! Liên tục đi tìm, một ngày nào đó bạn sẽ thấy nó. Giả dối đó cho bạn hi vọng, nó cho bạn tương lai, nó cho bạn mơ tương lai. Thượng đế của bạn ở đâu đó xa xôi. Nó phải là xa xôi, vì gần cạnh Ngài, sẽ là nguy hiểm.

Cho nên bạn có thể kính trọng thầy chết nhưng bạn không thể kính trọng thầy sống. Thầy là quá gần, thầy là quá nguy hiểm. Christ bây giờ được tôn thờ, gần nửa trái đất đã trở thành người Ki tô giáo. Và khi ông ấy đã ở đây, không quá mười hai người đã theo ông ấy - và họ nữa, theo một cách nửa vời. Và họ nữa đã phản bội ông ấy trong khoảnh khắc cuối cùng. Và ngày ông ấy chết, ông ấy đã trở thành Thượng đế, ông ấy đã trở thành thiêng liêng. Và hàng triệu và hàng triệu người bắt đầu tới theo chân ông ấy, và suốt nhiều thời đại họ đã tới và tăng dần lên.

Tại sao Christ chết dường như là quan trọng hơn Christ sống? Lí do là: Christ sống có thể chứng tỏ gây tai hoạ cho ảo vọng của bạn. Christ chết không thể làm được bất kì cái gì cho bạn. Christ chết là trong kiểm soát của bạn, Christ sống không thể bị bạn kiểm soát. Christ chết chỉ là cái tên, lời - trống rỗng, bất lực. Christ sống là lửa. Bạn có thể chơi với từ 'lửa' nhưng bạn không thể tới gần bản thân lửa. Nó sẽ thiêu cháy bạn, nó sẽ phá huỷ bạn.

Nhưng trong chính sự phá huỷ của bạn lại là khả năng của việc sinh mới. Từ tro tàn cái mới sẽ được sinh ra. Huyền thoại về chim phượng hoàng không phải là huyền thoại, nó là biểu dụ cho việc tái sinh của con người. Bạn phải chết đi trước, để được tái sinh. Christ sống giống như cái chết. Christ chết là sự an ủi, thuận tiện, an ninh.

Mới đêm hôm nọ, một người đàn bà đã có đó và cô ấy nói cô ấy yêu thiền của tôi và nhiều điều đang xảy ra qua những việc thiền. Không chỉ điều đó, cô ấy đã bắt đầu dạy thiền của tôi cho những người khác và nhiều điều đang xảy ra cho họ. Nhưng cô ấy không thể được khai tâm bởi tôi. Tôi hỏi tại sao. Cô ấy nói vì các lí do tôn giáo - cô ấy có thể là người Ki tô giáo hay người Do Thái hay ai đó. Cô ấy không thể bỏ Christ chết vì một Christ sống. Cô ấy gọi nó là 'vì lí do tôn giáo'. Lí do thực là: tới gần tôi có thể là tai hoạ cho cô ấy. Christ là hoàn toàn được, nó chỉ là bức hình trên tường hay cái tên trong sách hay một từ trong mồm bạn. Nó không ngụ ý điều gì, nó là ồn ào.

Nhưng nếu bạn tới gần tôi - và khai tâm ngụ ý tới gần, khai tâm ngụ ý gần nhất có thể được - bạn sẽ bị thiêu cháy. Bạn sẽ bị thiêu cháy thành tro. Bạn sẽ biến mất.

Nhưng điều đó là hi vọng thực duy nhất. Nếu bạn biến mất như bạn vậy, bạn sẽ được sinh ra như bạn thực vậy. Chỉ việc biến mất của giả dối mà bạn mới trở thành, mới có thể là việc sinh ra của chân lí. Và chân lí là không xa xôi, nó ẩn ngay bên trong bạn. Và bạn đang bám lấy giả dối. Nhân cách của bạn là giả dối. Vì bởi vì nhân cách, bạn không thể tiến tới điều bản chất. Nhân cách được xã hội dạy cho bạn; xã hội tạo ra giả dối. Giả dối là rất rất thuận tiện. Giả dối vận hành như chất bôi trơn, giả dối làm cho cuộc sống trôi chảy. Bạn thấy ai đó và bạn mỉm cười. Và nụ cười này là giả dối - vì nó không tới từ tim bạn, nó chỉ được tô vẽ đó trên môi. Bạn đã tạo ra nó, bạn đã xoay xở có nó, nó là một loại bài tập môi. Nhưng nó bôi trơn mối quan hệ, người khác bắt đầu mỉm cười.

Nếu bạn là thực, nếu bạn là như bạn vậy, sẽ là khó khăn, mối quan hệ sẽ trở thành khó. Các nhà tâm lí học nói rằng nếu mọi người bắt đầu để lộ điều ở trong tim người đó, tình bạn sẽ biến mất khỏi thế gian, yêu sẽ biến mất khỏi thế gian. Điều đó là đúng. Sẽ không thể nào tìm ra bạn bè nếu bạn đơn giản nói điều có trong tim bạn. Nếu bạn nói điều có trong tim bạn, người bạn yêu sẽ bỏ bạn và người yêu bạn sẽ bỏ bạn.

Bạn liên tục giữ điều đó trong tim, và bạn liên tục diễn cái gì đó mà không thực sự có đó - bạn làm cái gì đó khác, chính cái đối lập. Bạn có thể giận nhưng bạn mỉm cười. Bạn có thể sôi lên bên trong nhưng bạn mỉm cười. Bạn có thể muốn la hét nhưng bạn liên tục hát. Bạn có thể muốn làm cái gì đó khác nhưng điều đó là không khả thi, nó không thực tế, nó không là điều đúng để làm.

Xã hội tạo ra nhân vật này, mặt nạ này quanh bạn, nhân cách này.

Có ba người trong bạn. Người-1 - đó là nhân cách. Từ personality-nhân cách bắt nguồn từ gốc Hi Lạp 'persona'. Trong kịch Hi Lạp họ thường dùng các mặt nạ, và tiếng nói sẽ bắt nguồn từ mặt nạ. 'Sona' nghĩa là tiếng nói, âm thanh, và 'per' nghĩa là qua mặt nạ. Mặt thực bạn không biết - ai là diễn viên thực. Có mặt nạ, và qua mặt nạ tiếng nói đi tới.

Dường như nó đang tới từ mặt nạ, và bạn không biết mặt thực. Từ 'personality-nhân cách' là hay, nó bắt nguồn từ kịch Hi Lạp.

Và đó là điều đã xảy ra. Trong kịch Hi Lạp họ chỉ có một mặt nạ. Bạn có nhiều. Mặt nạ chồng lên mặt nạ, như các lớp vỏ hành. Nếu bạn bỏ một mặt nạ ra, có mặt nạ khác, nếu bạn tháo mặt nạ đó ra, lại có mặt nạ khác. Và bạn có thể liên tục tháo và tháo và bạn sẽ ngạc nhiên: bạn đang mang bao nhiêu mặt nạ. Bao nhiêu! Trong nhiều kiếp bạn đã từng thu thập chúng. Và tất cả chúng là hữu dụng, vì bạn phải đổi nhiều lần. Bạn đang nói với người hầu, bạn không thể có cùng mặt mà bạn có, khi nói với ông chủ của bạn. Và chúng có thể cả hai cùng hiện diện trong phòng: khi bạn nhìn vào người hầu, bạn phải dùng mặt nạ này và khi bạn nhìn vào ông chủ của bạn, bạn phải dùng mặt nạ khác. Bạn liên tục thay đổi. Nó gần như đã trở thành tự động - bạn không cần thay đổi, nó tự thay đổi. Bạn nhìn vào ông chủ và bạn mỉm cười. Và bạn nhìn vào người hầu và nụ cười biến mất và bạn tỏ ra khó chịu - khó chịu như ông chủ khó chịu với bạn. Khi ông ta nhìn vào ông chủ của ông ta, ông ta mỉm cười.

Trong một khoảnh khắc, bạn có thể đổi mặt bạn nhiều lần. Người ta phải rất rất tỉnh táo để biết người ta có bao nhiêu mặt. Vô số. Chúng không thể được đếm.

Đây là người thứ nhất của bạn, người giả của bạn. Hay bạn có thể gọi nó là bản ngã. Nó đã được trao cho bạn bởi xã hội, nó là món quà từ xã hội - từ chính khách và tu sĩ và bố mẹ và nhà sư phạm. Họ đã trao cho bạn nhiều mặt, chỉ để làm cho cuộc sống của bạn được suôn sẻ. Họ đã lấy đi chân lí của bạn, họ đã cho bạn cái thay thế. Và vì những mặt thay thế này, bạn không biết bạn là ai. Bạn không thể biết được, vì các mặt thay đổi nhanh thế và chúng nhiều thế, bạn không thể tin cậy vào bản thân bạn được. Bạn không biết đích xác mặt nào là của bạn. Thực ra chẳng mặt nào trong những mặt này là của bạn.

Và Thiền nhân nói: Chừng nào ông chưa biết mặt nguyên bản của ông, ông sẽ không biết Phật là gì. Vì Phật là mặt nguyên bản của bạn. Bạn đã được sinh ra là Phật và bạn đang sống sự giả dối.

Món quà xã hội này phải bị bỏ đi. Đó là nghĩa của tính chất sannyas, việc khai tâm. Bạn là người Ki tô giáo hay người Hindu hay người Mô ha mét giáo, mặt đó phải bị bỏ. Vì nó không phải là mặt riêng của bạn - nó đã được trao cho bạn bởi người khác, bạn đã bị ước định cho nó. Và bạn thậm chí đã không được hỏi, bạn thậm chí đã không được yêu cầu. Nó đã bị áp đặt một cách cưỡng bức, bạo hành.

Mọi bố mẹ và mọi hệ thống giáo dục là bạo hành. Vì họ không chú ý gì tới bạn. Họ có những ý tưởng tiên thiên, họ đã biết cái gì là đúng. Và họ đặt cái 'đúng' lên bạn. Bạn quằn quại, bạn la hét bên trong, nhưng bạn bất lực. Đứa trẻ là bất lực thế và tinh tế thế, nó có thể được tạo khuôn theo bất kì cách nào. Và đó là điều xã hội làm. Trước khi đứa trẻ trở thành đủ mạnh, nó đã bị làm què theo cả nghìn lẻ một cách. Bị làm tê liệt, bị đầu độc.

Ngày bạn muốn trở thành có tính tôn giáo, bạn sẽ phải bỏ các tôn giáo. Ngày bạn muốn có quan hệ với Thượng đế bạn sẽ phải bỏ mọi ý thức hệ về Thượng đế. Ngày bạn muốn biết bạn là ai, bạn sẽ phải bỏ mọi câu trả lời đã được trao cho bạn. Mọi cái được vay mượn đều phải bị thiêu cháy.

Đó là lí do tại sao Thiền đã được định nghĩa là: 'Trực chỉ nhân tâm. Kiến tính thành Phật. Bất lập văn tự. Giáo ngoại biệt truyền.' Việc truyền tách biệt bên ngoài kinh sách: Koran không thể trao nó cho bạn, Dhammapada không thể trao, Kinh Thánh không thể trao, Talmud và Gita không thể trao. Không kinh sách nào có thể trao nó cho bạn. Và nếu bạn tin vào kinh sách, bạn sẽ liên tục bỏ lỡ chân lí.

Chân lí ở trong bạn. Nó phải được đương đầu ở đó. 'Kiến tính thành Phật. Trực chỉ nhân tâm.' Bạn không đi bất kì đâu. Và bất kì chỗ nào bạn đi, bạn sẽ vẫn còn là người cũ, cho nên phỏng có ích gì? Bạn có thể đi tới Himalayas, điều đó sẽ không làm thay đổi bất kì cái gì. Bạn sẽ mang mọi điều bạn có đi cùng bạn. Mọi điều bạn đã trở thành, mọi điều bạn đã được đóng vai, bạn sẽ mang mọi thứ nhân tạo của bạn. Mặt tổng hợp của bạn, tri thức vay mượn của bạn, kinh sách của bạn, sẽ liên tục bám bên trong bạn. Ngay cả ngồi một mình trong hang ở Himalayas, bạn cũng sẽ không một mình. Các thầy giáo sẽ có đó quanh bạn, và các tu sĩ và chính khách và bố mẹ và toàn thể xã hội. Điều đó có thể là không thấy được thế, nhưng nó sẽ có đó bên trong bạn, xúm vào bạn. Và bạn sẽ vẫn còn là người Hindu ở đó hay người Ki tô giáo hay người Mô ha mét giáo. Và bạn sẽ liên tục lặp lại các lời như vẹt. Nó sẽ không thay đổi, nó không thể thay đổi.

Tôi đã đọc một câu chuyện Bavarian hay; bạn có thể đã nghe về nó. Hãy suy ngẫm về nó đi.

Thiên thần từ Munich

Alois Hingerl, người khuân vác số 172 tại ga trung tâm Munich, đã làm việc hăng hái tới mức một hôm ông ấy chết đột tử. Hai thiên thần bé nhỏ mang ông ấy lên Cõi trời mà thực khó khăn, ở đó Thánh Peter đón chào ông ấy và bảo ông ấy rằng từ giờ trở đi tên ông ấy sẽ là Angel Aloisius. Thánh đưa cho ông ấy cây đàn hạc và thông báo cho ông ấy về các qui tắc nhà Cõi trời. 'Từ tám giờ sáng tới mười hai giờ trưa,' thánh nói, 'ông sẽ hân hoan. Và từ mười hai giờ trưa tới tám giờ tối ông sẽ hát kinh kính chúa.'

'Cái gì đang diễn ra vậy?' Aloisius hỏi. 'Từ tám giờ sáng cho tới mười hai giờ trưa, hân hoan sao? Và từ mười hai giờ trưa tới tám giờ tối hát kinh kính chúa sao? Vậy... hmhm... ấy a, và khi nào tôi có cái gì đó để uống?'

'Ông sẽ có năng lượng vào đúng lúc,' Peter nói, hơi bực mình, và bỏ ông ấy đi.

'Chết tiệt!' Angel Aloisius càu nhàu. 'Điều đó sẽ tệ hơn là kéo lê! Mình phải hân hoan từ tám tới mười hai giờ sao? Và mình tưởng không có việc trong Cõi trời.' Nhưng chung cuộc ông ấy đã ngồi lên mây và bắt đầu hát như ông ấy được bảo: 'Hallelujah! Hallelujah!'

Một thiên thần trí thức đầy sinh khí lướt qua. 'Này, ông!' Aloisius gọi. 'Một nhúm thuốc hít thì sao? Tới bây giờ đi, chúng ta hít một chút!' Nhưng thiên thần bị chán ghét bởi ý tưởng tầm thường này. Ông ấy chỉ thì thào 'Kinh kính chúa' và bay đi mất.

Aloisius trở nên bực bội. 'Ui chao - loại kẻ ngốc gì thế này?' ông ta hét kên. 'Nếu ông không có thuốc hít nào, thì ông không có, chứ gì? Người ta chẳng lẽ không mong đợi một câu trả lời nhã nhặn được sao? Ông là đồ nhà quê thộn! Ồ! Bạn thân, họ đã lên đây là người gì vậy! A, a, mình đã lao vào cái gì vậy!' Và một lần nữa ông ta ngồi xuống mây của mình và tiếp tục hân hoan.

Nhưng cơn giận của ông ta đã biểu lộ trong việc hát, và ông ta quát to tới mức Cha Trời ở cửa bên cạnh thức dậy từ giấc ngủ trưa và hỏi với vẻ ngạc nhiên: 'Tiếng ồn này từ đâu tới vậy?' Lập tức Ngài cho mời thánh Peter đến, ông này chạy ngay tới, và cùng nhau, họ nghe thấy tiếng hân hoan khiếm nhã của Angel Aloisius: 'Hallelujah! Cứt! Hallelujah! Phân! Hallelujah! Đéo! Hallelujah!' Thánh Peter hấp tấp đi ra và lôi Aloisius ra trước Đức Ngài.

Cha Trời nhìn ông ta một lúc lâu rồi Ngài nói: 'Ồ, ta thấy rồi: một thiên thần từ Munich. Đó là điều ta đã nghĩ! Giờ hãy nói cho ta, mọi lời la hét này là gì?'

Đó đích xác là điều Aloisius đã từng chờ đợi. Ông ta bực bội tới mức ông ta bắt đầu ngay. 'Tôi không thích mọi thứ này! Tôi không thích có cánh! Tôi không thích hát bài kinh kính chúa! Tôi không thích uống năng lượng thay cho bia! Và hãy để tôi làm cho rõ ràng: tôi không thích hát!'

'Thánh Peter,' Đức Ngài nói 'điều này sẽ không bao giờ có tác dụng! Nhưng ta có một ý tưởng. Chúng ta sẽ sử dụng ông ta làm sứ giả truyền đạt lời khuyên Cõi trời của chúng ta cho chính phủ bang Bavaria. Cho nên ông ta có thể bay tới Munich một hay hai lần một tuần, và hồn tốt của ông ta sẽ nghỉ ngơi trong an bình!'

Khi Aloisius nghe thấy điều này, ông ta cảm thấy quả thực rất hạnh phúc. Chẳng mấy chốc ông ta nhận việc chuyển giao đầu tiên, một bức thư, và ông ta bay xuống thế gian.

Và khi một lần nữa ông ta cảm thấy đất của Munich ở dưới chân mình, với ông ta dường như là bây giờ ông ta mới thực sự ở Cõi trời. Và, theo thói quen cũ của mình, ông ta lập tức đi tới Hofbrauhaus và thấy chỗ ngồi quen thuộc vẫn còn trống và đang đợi ông ta. Ông già tốt bụng Kathi, người phục vụ, vẫn đó và ông ấy gọi một chầu bia khác, và chầu nữa, và lại chầu nữa… và ông ta chỉ ngồi và vẫn ngồi từ đó tới nay.

Và đó là lí do mà chính phủ bang Bavaria tới ngày nay, vẫn phải làm mà không có Hướng dẫn Thiêng liêng.

Bất kì chỗ nào bạn đi, bạn sẽ là bản thân bạn. Ngay cả trong Cõi trời hay trong Himalayas. Bạn không thể khác được. Thế giới không ở bên ngoài bạn, bạn là thế giới. Cho nên bất kì chỗ nào bạn đi, bạn mang thế giới của bạn đi cùng bạn.

Trích từ quyển 'Chính thân này là phật' - Osho

0 Comments