Tôi không quan tâm tới việc phát triển con người, tôi đơn giản quan tâm tới việc thức tỉnh con người

Thiền Osho Podcast


Powered by RedCircle

Khi nói với người thọ tám mươi đáng ngạc nhiên, ông Lewis, hôm nọ, tôi đã hỏi ông ấy liệu ông ấy có định nhận tính chất sannyas không. Ông ấy nói ý tưởng về đổi luồng sau ba mươi năm thuộc về Gurdjieff đã là hơi nhiều. Ông ấy đã cảm thấy sự nhấn mạnh là rất nhiều lên tim ở đây, như đối lập với việc phát triển con người hài hoà có ba trung tâm.

Câu hỏi này là từ Pradeepa.

Tôi có thể hiểu được lo lắng của ông già này. Ông ấy là người hay, nhưng ba mươi năm thuộc về công việc của Gurdjieff là tải trọng nặng. Và bây giờ ở tuổi tám hai dường như rất rất khó để thảnh thơi. Dường như khó bỏ công việc này và vui đùa. Điều đó rất tự nhiên, nó có thể được hiểu.

Ở đây tôi không cho bạn bất kì cấu trúc nào cho phát triển, vì tôi không quan tâm tới phát triển chút nào. Bây giờ, ông ấy nói điều đó là đối lập với sự phát triển con người hài hoà có ba trung tâm. Tôi không quan tâm tới việc phát triển con người, tôi đơn giản quan tâm tới việc thức tỉnh con người - và hãy nhớ sự khác biệt: không trong phát triển. Không có nhu cầu về bất kì phát triển hài hoà nào, chỉ có một nhu cầu được thức tỉnh.

Bạn có thể liên tục ngủ và bạn có thể liên tục làm việc trên bản thân bạn. Mọi công việc là ngủ, nó là mơ. Bạn đang mơ phát triển bản thân bạn; bạn đang cố kéo bản thân bạn đứng lên bằng chân không của bạn. Nhưng nó là mơ. Và mọi người rất rất sẵn sàng đi vào mơ mới, vì một cách tự nhiên họ chán với mơ cũ, mơ lặp lại - vợ, chồng, tiền, quyền. Thế rồi ai đó tới và nói, 'Anh đang làm gì vậy? Bỏ điều này cho người hữu tử bình thường đi. Anh là người tâm linh. Lại đây, và tôi sẽ nói cho anh cách phát triển về tâm linh.' Và một cách tự nhiên người ta chán ngán với những trò chơi cũ, kết thúc với những trò chơi cũ - một khoảnh khắc tới trong cuộc sống của mọi người khi người ta có thể thấy rằng nó là cái vòng luẩn quẩn, người ta đã ở trong nó đủ lâu để biết cái vô nghĩa của nó - thế rồi ai đó tới và lại cho hi vọng.

Hi vọng này đem lại tương lai; tưởng tượng lại bắt đầu làm việc. Bạn lại bắt đầu mơ màng - bây giờ tăng trưởng tâm linh. Và bạn lại trở lại cùng con đường.

Tôi không dạy bất kì phát triển nào. Tôi đang dạy bạn chỉ thức tỉnh. Chỉ mở mắt bạn ra! Bạn đang ở trong Vườn Eden - chỉ mở mắt ra thôi. Tôi không ở đây để cho bạn bất kì mơ nào khác. Nếu bạn muốn mơ, những giấc mơ cũ là hoàn toàn tốt - và bạn được hoà hợp nhiều thế với chúng, tại sao thay đổi? Tiền sẽ có tác dụng, tại sao mơ mới về thiền? Trò chơi cũ là hoàn toàn tốt. Trò chơi mới sẽ cho bạn hơi chút phiền hà - bạn sẽ phải trằn trọc trong giường và thế rồi lại lắng đọng, và lần nữa chúng sẽ trở thành cũ. Vâng, tuần trăng mật sẽ có đó trong vài ngày và thế rồi chúng sẽ trở thành cũ.

Đó là lí do tại sao mọi người liên tục đổi từ guru này sang guru khác, từ môn phái này sang môn phái khác, từ tôn giáo này sang tôn giáo khác. Điều đó không giúp ích, nó là tuyệt đối vô dụng. Điều được cần không phải là mơ mới, không phải là công việc mới, không phải là ham muốn mới, không phải là tham vọng mới. Mà là việc thức tỉnh.

Ông ấy là đúng rằng khó thay đổi các luồng chảy sau ba mươi năm thuộc về Gurdjieff. Điều đó là khó. Nhưng nếu bạn thấy ra vấn đề, nó đơn giản thế. Nó là chớp nhoáng. Bạn đã từng làm việc và làm việc cái gì đã xảy ra? Bất kì cái gì có thực sự xảy ra không? Khó mà nhận ra điều đó nữa, rằng không cái gì đã xảy ra, vì điều đó đi ngược lại bản ngã. Ba mươi năm làm việc, và nếu không cái gì đã xảy ra mọi người sẽ nghĩ về bạn như kẻ ngu. Thế thì bạn đã làm gì trong ba mươi năm này? Một hay hai năm thì được - thế thì bạn ắt đã thoát ra khỏi nó. Bạn đã làm gì trong ba mươi năm phí hoài cả đời bạn? Điều đó có vẻ rất khó chấp nhận. Cho nên người ta liên tục nghĩ, 'Vâng, cái gì đó đang xảy ra, cái gì đó đã xảy ra.' Cái gì đó phải xảy ra - ba mươi năm sao? Và người ta liên tục thuyết phục bản thân mình và bảo vệ bản thân người ta và người ta nghĩ bây giờ thì quá trễ để thay đổi.

Không bao giờ quá trễ đâu! Và tôi không nói thay đổi. Tôi không nói đổi thầy, tôi không nói thay đổi môn phái, tôi đang nói: Thay đổi từ ngủ sang thức. Và điều đó không thể là sự phát triển từ ngủ sang thức, nhớ lấy. Hoặc bạn ngủ hoặc bạn thức. Không có ga trung chuyển giữa thức và ngủ. Hoặc cái này hoặc cái kia. Chúng là hai động thái, chúng không thể tồn tại cùng nhau. Cho nên không thể có mức độ - bạn không thể nói, 'Người này thức mười độ và người này thức hai mươi độ và người này thức ba mươi độ.' Người ta thức hoặc người ta ngủ. Người ta biết hoặc người ta không biết.

Cho nên tôi không nói thay đổi - tôi không quan tâm tới thay đổi môn phái của bạn, vì chúng sẽ là mơ mới. Đó là lí do tại sao tôi nói không bao giờ quá trễ. Nếu bạn đã đi vào tuổi tám mươi hai mới tới Gurdjieff, ông ấy chắc chắn đã nói điều đó là quá trễ - 'Bây giờ ông đi và sống vô vị và kết thúc bản thân ông đi, không cái gì có thể được làm.' Và không chỉ là bạn đã bỏ lỡ kiếp này - vì Gurdjieff thường nói bạn không có bất kì hồn nào. Cho nên không chỉ kiếp này, bạn đã bỏ lỡ mãi mãi! 'Bây giờ biến đi! Sống vô vị vài năm nữa và kết thúc. Ông không có bất kì hồn nào và quá trễ rồi.'

Với tôi không bao giờ là quá trễ, vì nó có thể xảy ra trong một phần khoảnh khắc. Nó có thể xảy ra trên giường chết - một người sắp chết và hơi thở cuối cùng, và nó có thể xảy ra và người đó có thể hoàn toàn được biến đổi. Phát triển không thể xảy ra được, phát triển cần thời gian, nhớ lấy. Tiến hoá cần thời gian. Biến đổi là có thể, vì biến đổi không cần thời gian! Và cái xảy ra trong thời gian là một phần của thời gian. Và cái xảy ra trong vô thời gian là một phần của vĩnh hằng.

Đó là điều tôi ngụ ý khi tôi nói nó xảy ra trong chớp nhoáng. Chứng ngộ giống như sét. Nó có thể xảy ra bất kì khoảnh khắc nào, tại chính hơi thở cuối cùng. Hơi thở cuối cùng đang rời khỏi bạn và nó sẽ không tới lần nữa, và nó có thể xảy ra. Không cần thời gian, vì bạn đã là cái đó rồi. Cho nên phỏng có ích gì với thời gian? Thời gian được cần nếu bạn không là cái đó và bạn phải trở thành cái đó. Thế thì một cách tự nhiên, nỗ lực lớn, lập kế hoạch, huấn luyện, tìm kiếm.

Và ông ấy là đúng rằng nhấn mạnh ở đây là nhiều vào trái tim, như đối lập với phát triển con người hài hoà có ba trung tâm. Tim đơn giản ngụ ý hài hoà. Ít nhất đó là điều tôi muốn nó ngụ ý, tim đơn giản ngụ ý hài hoà. Khi bạn hài hoà, bạn ở trong tim. Khi bạn không hài hoà, bạn không trong tim, bạn ở đâu đó khác. Tim không phải là trung tâm ở đây - thực sự chúng ta không nói về các trung tâm. Tim là trạng thái của hài hoà. Tim là trạng thái của trưởng thành.

Cái đầu bao giờ cũng đầy những ham muốn, cái đầu sống trong tương lai. Tim là ở đây bây giờ. Ở đây là chỗ duy nhất và bây giờ là thời gian duy nhất cho tim. Bất kì khi nào bạn ở trong tim, bạn hoàn toàn ở đây, rạng ngời ở đây. Mọi quá khứ đã biến mất, mọi tương lai đã biến mất. Chỉ khoảnh khắc này trong sự thuần khiết như pha lê của nó tồn tại, trong sự mãnh liệt của nó, trong đam mê của nó.

Tôi không dùng từ 'tim' theo cách Gurdjieff thường dùng nó, như một trung tâm. Nó không phải là trung tâm. Khi mọi trung tâm của bạn đã biến mất trong một sự thống nhất, sự thống nhất đó tôi gọi là tim. Đó là cách Phật dùng từ 'tim'. Khi Gurdjieff dùng từ 'tim', ông ấy dùng nó theo cùng cách các nhà thơ dùng từ 'tim' - trung tâm của xúc động và tình cảm. Khi tôi dùng từ 'tim', tôi dùng nó như chư phật đã từng dùng nó. Nó không liên quan gì tới xúc động và tình cảm và cảm giác - không, không cái gì chút nào. Tim là trạng thái của hiện hữu khi bạn là hài hoà, khi mọi mảnh của bạn đã biến mất.

Và lại nhớ, tôi không nói rằng chúng đã trở nên được tích hợp vào một. Đó là điều Gurdjieff nói, rằng mọi trung tâm của bạn phải trở thành được tích hợp vào một, chúng phải trở nên được kết tinh. Thứ được kết tinh đó sẽ là bản ngã được kết tinh. Khi tôi nói 'khi nào mọi mảnh của bạn đã biến mất', tôi đơn giản ngụ ý khi chúng không còn đó nữa và chỉ sự thiếu vắng thuần tuý còn lại. Nó không phải là kết tinh hoá của các bộ phận, các bộ phận không còn đó nữa. Chúng đơn giản đã rơi rụng đi - đồ đạc đó đã bị loại bỏ khỏi sự hiện hữu của bạn. Bây giờ sự hiện hữu của bạn chỉ là trống rỗng, hư không.

Hư không đó, anatta, vô ngã - không gian thuần khiết, đó là điều chúng ta đã từng gọi là 'tâm' ở phương Đông. Nó chẳng liên quan gì với việc dùng từ của các nhà thơ.

Nhưng Lewis đã từng nghĩ theo các thuật ngữ của Gurdjieff trong cả đời ông ấy. Ông ấy đã không gặp Gurdjieff bao giờ, ông ấy đã bỏ lỡ cơ hội đó. Ông ấy có thể bỏ lỡ cơ hội này nữa.

Gurdjieff đã là một người hiếm hoi. Nhưng ông ấy đã làm việc trong một thế giới rất xa lạ. Ông ấy đã đem thông điệp lớn từ phương Đông, đặc biệt từ người Sufi, sang phương Tây. Và ông ấy đã cố dịch nó. Trong việc dịch đó nhiều thứ đi sai - điều đó bao giờ cũng xảy ra. Thông điệp càng cao, càng khó dịch nó. Những thứ trần tục có thể được dịch rất dễ dàng. Và Gurdjieff đã không phải là người đúng để dịch nó nữa. Ông ấy không phải là người giỏi nói lắm. Cả đời ông mình, ông ấy đã đi tìm - từ Trung Á, từ Iraq tới Mông Cổ và tới Tây Tạng và tới Ấn Độ, ông ấy đã đi tìm. Cả đời ông ấy đã trong việc tìm. Và thế rồi khi ông ấy đi tới, lúc đó đã quá trễ để phát triển ngôn ngữ đúng, là đích xác chính xác. Ông ấy đã đơn giản lắp bắp thông điệp của mình, và những người khác phải thông dịch nó.

Thực ra, bất kì cái gì được biết về Gurdjieff không phải về Gurdjieff, nó là về P D Ouspensky. Gurdjieff đã trở nên nổi tiếng qua P D Ouspensky - nếu P D Ouspensky mà chưa bao giờ là đệ tử của Gurdjieff, ông ấy chắc đã không được nổi tiếng chút nào. Theo một cách nào đó, điều đó chắc đã là rất rất không may mắn, theo một cách khác, nó chắc đã là rất rất may mắn nữa. Vì Ouspensky đã phản bội ông ấy. Ouspensky đã là người đúng để dịch nhưng ông này không có việc nhận ra riêng của mình. Gurdjieff đã có việc nhận ra nhưng ông ấy đã không có ngôn ngữ để dịch nó. Đó đã là gặp gỡ của người mù và người què - họ đã giúp đỡ nhau. Điều đó gần giống như Ramakrishna và Vivekananda. Vivekananda không có việc nhận ra, Ramakrishna đã có việc nhận ra. Nhưng Ramakrishna không có cách diễn đạt nó. Và Vivekananda rất giỏi nói, triết lí, rất kiêu căng trong phát biểu của ông ta, rất logic. Ông ta là triết gia. Ramakrishna là nhà huyền bí. Ramakrishna đã thấy Thượng đế, hay chân lí. Vivekananda đã không thấy nhưng ông ta biết ngôn ngữ. Cho nên Vivekananda đã trở thành việc giới thiệu của Ramakrishna cho thế giới - việc giới thiệu sai.

Nhưng đôi khi điều đó xảy ra. Rất hiếm khi tìm ra một người như Phật, người đã thấy và bản thân người đó có thể giúp bạn thấy - người là cả hai cùng nhau. Johnson và Boswell cả hai cùng nhau. Ramakrishna và Vivekananda cả hai cùng nhau. Socrates và Plato cả hai cùng nhau. Gurdjieff và Ouspensky cả hai cùng nhau. Đó là hiện tượng rất hiếm hoi. Nhưng khi nó xảy ra, chỉ thế thì mọi sự mới đi đúng.

Gurdjieff biết, và Ouspensky biết cách làm cho điều đó được biết với thế giới. Bây giờ, điều đó giống như người có mắt, nhưng câm, giúp cho người mù diễn đạt điều người đó biết về ánh sáng. Dùng người mù - người không có mắt, người không bao giờ thấy ánh sáng - dùng mồm của người này như phương tiện. Người kia không có mồm.

Nếu bạn đọc sách riêng của Gurdjieff chúng rất rất mệt mỏi và chán. Tôi chưa bao giờ bắt gặp một người đã thực sự đọc bất kì sách nào của ông ấy một cách đầy đủ. Người ta phải bỏ qua, người ta phải đi tiếp. Khi lần đầu tiên cuốn sách đầu tiên của ông ấy được xuất bản, đó là cuốn sách một nghìn trang, nhưng nhiều trang đã không được rạch ra - chỉ những trang giới thiệu được rạch ra. Và đã có một lưu ý trên sách rằng 'Nếu bạn có thể đi vào trong phần giới thiệu và bạn thực sự muốn đọc cuốn sách này, thế thì rạch các trang khác ra. Bằng không bạn có thể trả nó lại cho nhà xuất bản và nhận lại tiền của bạn.'

Ngay cả đi qua một trăm trang vào trong phần giới thiệu là cuộc hành trình rất gian truân. Chừng nào bạn chưa là kẻ tự bạo rất khó đi qua chúng - chừng nào bạn chưa tận hưởng khổ, thế thì đó là chuyện khác. Nó gây choáng. Đọc một nghìn trang đó khó gần như lên mặt trăng. Rất ít người đã bao giờ thử. Ông ấy đã là người tuyệt đối không thạo nói. Và vấn đề là ở chỗ toàn thể cuộc đời ông ấy đã đi vào những môn phái với các thầy, trong sự hiện diện của họ. Ông ấy đã tích luỹ, tích luỹ, và thế rồi một khoảnh khắc tới khi ông ấy cảm thấy rằng 'Bây giờ mình biết. Mình đã hiểu. Và mình phải đi sang phương Tây và giới thiệu truyền thống lớn này, trí huệ lớn này.'

Ouspensky đã trở thành phương tiện - nhưng chung cuộc Ouspensky đã phản bội ông ấy, ông ta đã chống lại ông ấy. Điều đó là tự nhiên nữa. Vì Ouspensky là kiểu người khác toàn bộ - triết gia, nhà toán học, nhà khoa học, nhà logic. Và dần dần khi ông ta trở nên thạo nói và ông ta bắt đầu nói mọi thứ và sách của ông ta trở nên nổi tiếng thế giới, ông ta bắt đầu nghĩ rằng bản thân ông ta đã đạt tới - bây giờ không cần Gurdjieff. Ông ta đã phản bội Gurdjieff. Điều đó bao giờ cũng xảy ra.

Judas đã phản bội Christ vì ông ta là người nói giỏi nhất, uyên thâm nhất, có giáo dục nhất. Trong mọi đệ tử của Jesus, Judas đã là người có văn hoá nhất, phức tạp nhất. Những người khác chỉ là dân làng - nông dân, tiều phu, ngư dân. Judas đã phản bội, Ouspensky cũng vậy. Và đó đã là lịch sử dài - nó bao giờ cũng được làm theo cách đó. Phật đã bị phản bội bởi người anh họ riêng của mình, Devadatta, người cũng là người phức tạp và có văn hoá như bản thân Phật. Họ đã chơi cùng nhau trong thời thơ ấu, họ đã lớn lên trong cùng cung điện. Ông ta đã phản bội ông ấy. Mahavira đã bị phản bội bởi con rể riêng của ông ấy. Ông ta đã là người quan trọng nhất trong các đệ tử của Mahavira; ông ta đã phản bội.

Người của tri thức, người am tường, là người nguy hiểm. Vì sớm hay muộn người đó sẽ có ý tưởng rằng 'bây giờ bản thân mình là thầy.' Thế giới biết tới Gurdjieff qua Ouspensky, người đã phản bội ông ấy. Gurdjieff không thể chuyển giao được thông điệp. Và Lewis đã bỏ lỡ ông ấy. Bây giờ ông ta ở đây, và tôi cảm thấy rằng ông ta rất mở. Chỉ ý tưởng rằng 'Cái gì có thể được làm bây giờ? Nếu nó đã không xảy ra trong ba mươi năm làm sao nó có thể xảy ra bây giờ?'

Nhưng tôi nói với bạn rằng việc xảy ra không cần mấy thời gian cho nó, nó có thể xảy ra trong một phần khoảnh khắc. Nếu bạn có thể làm nhẹ gánh bản thân bạn, nếu bạn có thể gạt sang bên mọi điều bạn đã học, mọi tri thức bạn đã thu thập, nếu bạn có thể lại nhìn vào mọi thứ bằng đôi mắt tươi tắn, nó vẫn là có thể. Nó bao giờ cũng là có thể. Bạn không bao giờ là quá trễ, không người nào quá trễ.

Ở Ấn Độ chúng ta có câu ngạn ngữ: Nếu người bị lạc quay về cho dù trong tối, người đó không nên bị coi là lạc. Cả ngày trôi qua rồi, mặt trời đang lặn, buổi sáng người đó đi lạc đường và giờ là chiều tối. Vâng, đó là chiều tối của Lewis. Gurdjieff bạn đã bỏ lỡ. Đừng bỏ lỡ người điên này ở đây. Và Gurdjieff đã định cho bạn chiếc thang mà bạn đi tiếp mãi và bạn phải phát triển và làm việc.

Tôi không cho bạn chiếc thang nào, và tôi không định cho bạn bất kì chiếc thang nào, và tôi không cho bạn con đường dài để được bạn du hành.

Tôi đơn giản cho bạn sáng suốt. Nếu bạn có thể nhận nó, trong chính việc nhận đó, sẽ có bùng nổ.

Và câu hỏi thứ ba cũng có liên quan tới điều đó:

Từ khi chương trình của thầy bắt đầu, kết quả gì đã có đó với các sannyasin của thầy? Có người nào trở nên chứng ngộ không?

Họ toàn là người đã chứng ngộ. Tôi không giải quyết với người không chứng ngộ chút nào. Tôi chưa bao giờ bắt gặp bất kì người không chứng ngộ nào. Từ khi tôi trở nên chứng ngộ, tôi đã từng bắt gặp mọi người chứng ngộ - đàn ông chứng ngộ, đàn bà chứng ngộ, chó và lừa chứng ngộ. Cây và đá và sao chứng ngộ. Toàn thể sự tồn tại này tồn tại trong chứng ngộ, đó là chính nhịp điệu của nó.

Cho nên bạn đang nói về cái gì vậy? Từ khi chương trình của thầy bắt đầu... Và đây không phải là chương trình. Nó là hiện tượng hỗn độn rất rất điên, nó không phải là chương trình. Nó là hỗn độn. Tôi gọi nó là hỗn độn cam.

Và bạn hỏi: kết quả gì đã có đó với các sannyasin của thầy? Một trăm phần trăm. Bất kì ai tới tôi đều chứng ngộ - bạn cần gì hơn? Nếu họ kiên trì không nhận ra điều đó, đó là niềm vui của họ. Đó là tự do của họ! Chừng này tự do, mọi người chứng ngộ phải có chứ - rằng nếu người đó muốn cư xử theo cách không chứng ngộ, người đó phải được phép. Nếu ngay cả tự do này bị mất, đây là kiểu chứng ngộ gì? Vài người chọn cư xử một cách không chứng ngộ, hoàn toàn tốt.

Lúc thì họ cư xử theo cách này, lúc thì theo cách kia - cách kia nữa cũng là tốt.

Mọi người được chấp nhận ở đây. Và tôi không hướng kết quả chút nào. 'Kết quả' là từ bẩn - cho dù nó không phải là từ tục tĩu, nó là bẩn thì cũng vậy. Chính kết quả đã đầu độc toàn thể nhân loại.

Chúng ta sống khoảnh khắc này; nó có cái đẹp bản chất. Nó phải không bị hi sinh vì bất kì khoảnh khắc khác nào. Khi bạn hướng kết quả, bạn liên tục hi sinh hiện tại cho tương lai. Và tương lai không bao giờ tới - bất kì khi nào nó tới nó đều là hiện tại. Bạn lại đầu tư nó, lại hi sinh nó, cho tương lai. Bạn bỏ lỡ.

Chúng ta không phải là hướng kết quả chút nào. Từng khoảnh khắc có cái đẹp riêng của nó, và cái đẹp là bản chất. Từng khoảnh khắc là mục đích cho bản thân nó, nó không là phương tiện cho bất kì thứ gì khác. Cho nên chúng ta không hướng kết quả. Và chúng ta không đếm ai đã trở nên chứng ngộ và ai đã không trở nên chứng ngộ. Tại sao bận tâm? Từ chính lúc bắt đầu mọi sinh linh là chư phật.

Nhưng có những người liên tục đếm bên trong bản thân họ.

Chuyện đã xảy ra: Mulla Nasruddin tiếp một vị khách. Và anh ta mang các thứ tới và thế rồi anh ta mua bánh gối. Và anh ta ép và ép - 'Ăn thêm cái nữa, ăn thêm cái nữa.' Và khách nói, 'Tôi đã ăn năm cái rồi, giờ no rồi.' Nasruddin nói, 'Không phải năm đâu, anh đã ăn chín cái rồi, nhưng ai đếm?'

Mọi người liên tục đếm sâu bên trong, và họ liên tục nói 'Ai đếm?'

Người này là mới - Jack Vaught. Tôi có thể hiểu khó khăn của anh ấy, anh ấy phải bị phân vân - ai chứng ngộ? ai không chứng ngộ? Nhiều người chứng ngộ thế, điều đó là có thể được không? Nhiều chư phật thế? Vì ở phương tây bạn đã rất keo kiệt - bạn nói Jesus là đứa con duy nhất của Thượng đế. Thượng đế đã bất lực từ đó sao? Bạn keo tới mức chỉ một đứa con được sinh ra. Và Ngài đã làm gì kể từ thời đó? Thế thì Nietzsche là đúng khi ông ấy nói Thượng đế chết rồi. Không cái gì đang xảy ra, Ngài phải chết.

Ở phương Đông chúng ta không keo kiệt. Đó là lí do tại sao chúng ta nói với niềm vui: Từ chính lúc bắt đầu, mọi sinh linh là chư phật. Phật tính không phải là cái gì đó mà phải được trao cho bạn. Sự ngu xuẩn đó cũng tồn tại trong tâm trí người Ki tô giáo - ngay cả thánh nhân cũng phải được nhà thờ thừa nhận. Ngay cả từ 'saint-thánh nhân' là xấu, nó bắt nguồn từ 'sanction-thừa nhận'. Khi nhà thờ thừa nhận và tuyên bố rằng 'Người này đã trở thành thánh' thế thì người đó trở thành thánh - dường như đó là bằng tiến sĩ hay tiến sĩ văn chương. Mm? Đại học nào đó trao nó cho bạn và thế rồi bạn trở thành thánh nhân.

Ở đây bạn có thể tuyên bố bản thân bạn đã chứng ngộ. Không ai sẽ ngăn cản bạn. Một người đàn bà, Oma, liên tục thông báo cho tôi, 'Tôi đã trở nên chứng ngộ, Osho ơi.' Không có vấn đề gì - Oma có thể trở nên chứng ngộ, mọi người có thể trở nên chứng ngộ, mọi người là chứng ngộ. Nhưng tôi nghi ngờ - vì nỗ lực liên tục của cô ấy để thông báo cho tôi tạo ra nghi ngờ. Cô ấy cần việc thừa nhận. Mới hôm nọ, Ananda Prem - đệ tử của Oma - cô ấy đã viết bức thư cho tôi, rằng 'Oma nói cô ấy đã trở nên chứng ngộ: "Bạn có thể đi và hỏi Osho".' Nhưng tại sao hỏi tôi? Tôi là ai để tuyên bố bạn chứng ngộ hay không? Nếu tôi định tuyên bố bạn đã chứng ngộ, điều đó sẽ không mấy là chứng ngộ đâu. Tôi là ai? Nếu bạn đã trở nên chứng ngộ, bạn đã về nhà. Bạn bao giờ cũng vậy rồi - đó là điều tôi đang nói. Thừa nhận không được cần chút nào. Không lệnh nào được cần để ban ra, không tuyên bố chính thức nào được cần.

Và bạn không cần hỏi. Nếu bạn hỏi, bạn đang nghi ngờ về điều đó. Nếu bạn đã trở nên chứng ngộ, bạn đã trở nên chứng ngộ. Đến sáng bạn không đi quanh nhà hàng xóm mà hỏi: 'Tôi có thức không?' Bằng không mọi người sẽ nghĩ bạn điên. Bạn phải ngủ!

Trích từ quyển 'Chính thân này là phật' - Osho

..............................

0 Comments